Thời gian qua, xã Mèo Vạc đã tích cực tham gia phong trào cải tạo vườn tạp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp. Nhờ sự đồng hành của chính quyền địa phương và sự chủ động của người dân, chương trình không chỉ thay đổi diện mạo nông thôn mà còn mang lại hiệu quả rõ rệt trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vùng cao.
Thực hiện chỉ đạo của UBND xã, người dân được hướng dẫn trồng, chăm sóc và thu hoạch đúng mùa vụ, đúng quy trình kỹ thuật; đồng thời tuyên truyền mở rộng diện tích sản xuất vụ 2, chủ động trồng cây vụ đông. Nhờ vậy, đến nay tổng diện tích gieo trồng cây lương thực toàn xã đạt hơn 3.400 ha, bằng 91% kế hoạch năm. Trong đó, cây lúa, ngô, rau màu đều sinh trưởng tốt, năng suất ổn định. Diện tích cỏ chăn nuôi được trồng thay thế cỏ già cỗi đạt hơn 65 ha, giúp người dân chủ động nguồn thức ăn cho đàn gia súc.
Cán bộ xã Mèo Vạc cùng người dân trao đổi kinh nghiệm trồng trọt trong chương trình cải tạo vườn tạp.
Nổi bật trong phong trào phát triển sản xuất của xã Mèo Vạc là chương trình cải tạo vườn tạp, hoạt động đã và đang lan tỏa mạnh mẽ ở nhiều thôn, bản, hiện xã Mèo Vạc có 31 hộ tham gia, được hỗ trợ giống cây, con và hướng dẫn kỹ thuật với kinh phí khoảng 840 triệu đồng. Việc cải tạo vườn tạp được triển khai đồng bộ, phù hợp với điều kiện tự nhiên và tập quán canh tác của từng hộ.
Theo đó, nhiều hộ đã mạnh dạn chuyển đổi các diện tích đất kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả, rau màu, nuôi lợn đen, gà thả vườn, dê, bò sinh sản. Các mô hình sản xuất kết hợp này không chỉ tận dụng hiệu quả nguồn đất sẵn có mà còn tạo sinh kế bền vững, giúp người dân có thêm thu nhập quanh năm. Ông Sùng Mí Lía, một trong những hộ thực hiện chương trình cải tạo vườn ở Pả Vi Thượng, chia sẻ:“Trước đây vườn nhà tôi toàn cỏ dại, cây cằn cỗi, chẳng thu được gì. Được xã hỗ trợ, tôi cải tạo lại, trồng rau, nuôi thêm gà, lợn đen. Giờ vườn xanh tốt, có cái ăn, cái bán. Mình làm được ra của cải từ chính đất nhà, thấy vui lắm.”
Câu chuyện của ông Lía cũng là câu chuyện chung của nhiều hộ dân nơi đây. Khi nhận thấy hiệu quả thiết thực từ mô hình, bà con trong xã đã chủ động học hỏi lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm trồng trọt, chăn nuôi. Nhờ đó, các khu vườn tạp được quy hoạch lại gọn gàng, tận dụng tối đa diện tích; phân chuồng được xử lý làm phân bón hữu cơ, giúp giảm chi phí sản xuất và bảo vệ môi trường.
Bên cạnh hiệu quả kinh tế, việc cải tạo vườn tạp còn mang ý nghĩa quan trọng trong thay đổi tư duy sản xuất của người dân. Từ chỗ quen canh tác nhỏ lẻ, manh mún, nhiều hộ đã biết liên kết, hợp tác cùng nhau tiêu thụ sản phẩm, bước đầu hình thành thói quen sản xuất hàng hóa. Những khu vườn không chỉ là nơi cung cấp thực phẩm cho gia đình mà còn trở thành nguồn thu ổn định, tạo động lực cho người dân vươn lên thoát nghèo.
Chương trình cải tạo vườn tạp được xác định là một trong những nhiệ