Một buổi sáng đầu thu, tại xưởng sản xuất của Hợp tác xã Tuấn Dũng (xã Mèo Vạc), ông Thèn Văn Hải, Giám đốc Hợp tác xã chăm chú theo dõi từng mẻ mật ong Bạc hà được đưa vào hệ thống hạ thủy phần hiện đại. Từ dòng mật sánh vàng, công nghệ mới giúp tách bớt lượng nước, giữ nguyên hương vị đặc trưng và kéo dài thời gian bảo quản. Ông Hải cười hiền: “Trước đây, mật ong hay bị lên men, khó vận chuyển xa. Nay nhờ ứng dụng công nghệ, sản phẩm không chỉ ngon hơn mà còn được thị trường ưa chuộng, giá trị tăng rõ rệt.”
Câu chuyện ở HTX Tuấn Dũng là minh chứng sống động cho hướng đi mới mà Tuyên Quang đang lựa chọn đó là đưa khoa học – công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển bền vững.
Từ nghị quyết đến hành động
Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2045, Tuyên Quang xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt. Dù là tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn về hạ tầng, địa hình, nhưng với tinh thần đổi mới và quyết tâm, Đảng bộ, chính quyền tỉnh đã chủ động cụ thể hóa nghị quyết bằng hàng loạt chương trình, đề án, kế hoạch gắn chặt với thực tiễn.
Giai đoạn 2020–2025, toàn tỉnh triển khai hơn 100 đề tài, dự án khoa học, với tổng kinh phí hơn 110 tỷ đồng. Nhiều công trình tập trung vào ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông – lâm nghiệp hàng hóa, phát triển công nghiệp và dịch vụ, gắn với xây dựng nông thôn mới. Các sản phẩm chủ lực như chè Shan tuyết, bưởi Soi Hà, cam sành, mật ong, na dai, cây dược liệu… đều được ứng dụng công nghệ sinh học, kỹ thuật bảo quản sau thu hoạch, nâng cao năng suất và giá trị.
Đại biểu tham quan gian triển lãm chuyển đổi số tại Trung tâm Hội nghị tỉnh.
Cùng với đó, công tác xây dựng, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được chú trọng. Tính đến nay, Tuyên Quang đã có hơn 650 sản phẩm được bảo hộ công nghiệp, trong đó có 12 chỉ dẫn địa lý, 18 nhãn hiệu chứng nhận và hàng trăm nhãn hiệu tập thể. Hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại, chuyển đổi số trong tiêu thụ sản phẩm OCOP ngày càng lan tỏa mạnh mẽ.
Tại Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số của tỉnh, cán bộ kỹ thuật đang giới thiệu các mô hình dữ liệu dùng chung phục vụ điều hành chính quyền điện tử. Ở đây, 100% văn bản điều hành của UBND tỉnh đã được xử lý điện tử; tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến toàn trình đạt trên 80%. Hạ tầng khoa học – công nghệ được đầu tư, các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo vận hành hiệu quả, tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi số toàn diện. Nhiều cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và người dân đã bắt đầu làm quen với các nền tảng trực tuyến, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc sản phẩm bằng mã QR.
Dẫu vậy, hành trình chuyển đổi số của Tuyên Quang vẫn còn nhiều thách thức. Kinh tế số hiện mới chiếm 7,2% GRDP; vùng sâu, vùng xa vẫn có những bản chưa có sóng viễn thông. Nguồn nhân lực công nghệ cao còn thiếu, tỷ lệ đầu tư cho KHCN mới đạt 0,45% GRDP – chưa tương xứng với tiềm năng phát triển.
Hướng tới tương lai đổi mới sáng tạo
“Chúng tôi xác định khoa học, công nghệ và chuyển đổi số phải trở thành trụ cột phát triển của tỉnh trong giai đoạn tới”, đồng chí Phan Đăng Đông, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tuyên Quang nhấn mạnh. Theo ông, tỉnh đã đề ra 8 nhóm giải pháp trọng tâm, trong đó có việc hoàn thiện cơ chế, chính sách; dành tối thiểu 1% chi ngân sách cho KHCN và đổi mới sáng tạo, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp thành lập quỹ KHCN.
Tuyên Quang đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp đặc sản, phát triển mô hình “nông thôn số”, “chợ số”, mở rộng thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc bằng blockchain; xây dựng khu, cụm công nghiệp thông minh gắn với hạ tầng số hiện đại. Tỉnh cũng khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong giới trẻ, tăng cường hợp tác “ba nhà”: Nhà nước – nhà khoa học – nhà doanh nghiệp, đưa tri thức và công nghệ vào đời sống. Bên cạnh đó, công tác đào tạo nhân lực số được chú trọng. Hàng nghìn cán bộ, công chức, viên chức được tập huấn kỹ năng công nghệ thông tin, sử dụng dữ liệu số. Tỉnh đang từng bước xây dựng Trung tâm giám sát, điều hành thông minh (IOC) cấp tỉnh, hình thành nền quản trị số thống nhất, minh bạch và hiệu quả.
Ứng dụng công nghệ giúp hoạt động xúc tiến thương mại nhanh chóng, tiện lợi.
Thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị không chỉ là trách nhiệm mà còn là cơ hội để Tuyên Quang bứt phá, rút ngắn khoảng cách phát triển. Khoa học – công nghệ và chuyển đổi số không còn là khái niệm xa vời, mà đã hiện diện trong từng sản phẩm nông nghiệp, từng giao dịch hành chính, từng thay đổi trong nếp sống của người dân.
Từ những bước đi cụ thể, Tuyên Quang đang khẳng định quyết tâm trở thành địa phương “đổi mới, bản sắc, hiện đại”, nơi tri thức và sáng tạo mở đường cho tương lai phát triển xanh, nhanh và bền vững.